Sàn sạt, loài dây leo dại có tác dụng trị bệnh

Bị mẩn ngứa, viêm rát khó chịu, dùng 100 g sàn sạt, 50 g thiên lý quang, cho vào nổi nấu rồi chắt lấy nước rửa vết thương.

Theo tiến sĩ Võ Văn Chi, tác giả Từ điển Cây thuốc Việt Nam, sàn sạt (hay luật thảo) có tên khoa học là Humulopsis scandens Grudz, thuộc họ gai mèo Cannabaceae.

sn-st-loi-dy-leo-di-c-tc-dng-tr-bnh-huongdanorg-thuoc-suckhoe

Đây là loài dây leo sống hằng năm hay nhiều năm. Thân có rãnh dọc, các nhánh và cuống lá đều có lông. Lá mỏng, mọc đối, phiến lá có hình năm góc, đường kính từ 7 đến 10 cm, thường chia ra từ 5 đến 7 thùy hình chân vịt, hai mặt có lông, mặt dưới có những điểm tuyến màu vàng, cuống lá dài từ 5 đến 20 cm. Hoa đực nhỏ, màu lục vàng nhạt, mọc thành chùy hình tháp dài từ 15 đến 25 cm. Hoa cái mọc thành xim. Quả bế màu vàng nhạt, hình cầu hơi dẹt.

Sàn sạt mọc rải rác ven rừng, quanh làng bản, lùm bụi, nơi sáng, ra hoa từ tháng 6 đến 7. Cây này phân bố nhiều ở Lào Cai, Lạng Sơn, Hòa Bình, Phú Thọ, Hà Nội, Nghệ An. Một số nước cũng có sàn sạt như Trung Quốc, Nhật Bản.

Đông y dùng toàn cây để làm thuốc, hái vào mùa hè thu, thái nhỏ phơi khô. Sàn sạt vị ngọt, đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi niệu, tán kết, kiện tỳ, thoái hư nhiệt. Cây thường được dùng trị một số bệnh ngoài da như mẩn ngứa, ngứa lở ngoài da, bỏng rạ nổi mụn có mủ, thũng độc và rắn cắn.

Phân tích dược lý cho thấy thân sàn sạt chứa luteolin-7-D-glucoside, tinh dầu, cholin, asparagine, tanin, nhựa. Thành phần tinh dầu gồm alpha-copen, alpha, beta selinen và y-cadinen. Bông quả chứa humalone, lupulone. Dịch ngâm cồn sàn sạt ở nồng độ 50% có tác dụng ức chế đối với trực khuẩn lỵ Shigella, hoa và quả giúp ức chế đối với trực khuẩn kết hạch và tụ cầu vàng.

Tiến sĩ Võ Văn Chi giới thiệu một số bài thuốc từ cây sàn sạt như sau:

– Bỏng rạ, nổi mụn có mủ: Nấu nước sàn sạt, tắm rửa mỗi ngày từ một đến 2 lần.

– Thiên bào sang ở trẻ em (Pemphigut): Sàn sạt 200 g. Nấu lấy nước tắm chỗ bệnh, mỗi ngày từ 2 đến 3 lần.

– Mẩn ngứa, viêm rát khó chịu: Sàn sạt 100 g, Thiên lý quang 50 g. Nấu nước rửa ngoài chỗ bệnh.

– Phổi kết hạch, lao phổi, sốt nhẹ về chiều, đêm ngủ ra mồ hôi trộm: Sàn sạt từ 40 đến 60 g đem sắc uống từ 7 đến 10 ngày liền.

– Rối loạn tiêu hóa: Cây sàn sạt từ 12 đến 24 g sắc uống.

– Bỏng rạ, nổi mụn có mủ: Dùng cây sàn sạt với lượng vừa đủ, nấu nước tắm rửa, mỗi ngày từ một đến 2 lần.

– Phong thấp khớp xương sưng đỏ: Giã cây sàn sạt trộn với mật đắp vào chỗ đau.

Gửi bình luận